TÀI LIỆU HỌC BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CHÍNH TRỊ HÈ NĂM HỌC 2019-2020

Ngày     tháng 8 năm 2019  HỌC BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HÈ NĂM HỌC 2019-2020 Hình thức: Học tập trung – Địa điểm: NỘI DUNG
  1. Nội dung 1: Bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học theo cấp học mầm non:
– Thời lượng: 40 tiết * ứng xử văn hóa trong các cơ sở giáo dục mầm non:  Quy tắc ứng xử của cán bộ, giáo viên, nhân viên bao gồm
  1. Đối với bản thân.
  2. Ứng xử với cơ quan, trường học khác.
  3. Ứng xử với cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp.
  4. Ứng xử với các tổ chức, người nước ngoài.
  5. Ứng xử trong hội họp, sinh hoạt, trong gọi, nghe điện thoại.
  6. Ứng xử với người thân trong gia đình.
  7. Ứng xử với nhân dân nơi cư trú.
  8. Ứng xử nơi công cộng, đông người.
QUY TẮC ỨNG XỬ CỤ THỂ  Nắm vững Pháp luật, thông thạo chuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh vững vàng, động cơ trong sáng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.  Chấp hành nghiêm chỉnh Pháp luật của Nhà nước, kỷ luật, kỷ cương của ngành. Không đi muộn, về sớm. Không làm việc riêng, không tự ý bỏ vị trí công tác trong giờ làm việc.  Sắp xếp, bài trí bàn ghế, phòng làm việc một cách khoa học, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ. Dạy xong phải để thiết bị đúng chỗ, đậy máy vi tính, ngắt điện…  Tác phong, trang phục: Mang trang phục phải gọn gàng, chỉnh tề phù hợp với môi trường sư phạm. Đeo thẻ công chức, viên chức theo đúng quy định. Không trang điểm lòe loẹt, nhuộm tóc sặc sỡ. Mặc áo dài, comple công sở vào các ngày lễ, hội nghị cán bộ viên chức, đại hội, lễ tổng kết và các ngày lễ khác theo quy định của Hiệu trưởng (trừ trường hợp có thai hoặc con nhỏ dưới 12 tháng).  Khi ngồi làm việc, hội họp, hội nghị luôn giữ tư thế ngay ngắn, không ngồi nghiêng ngửa, dạng chân, vắt chân chữ ngũ, rung đùi…  Khi đi đứng với tư thế chững chạc, gây tiếng ồn lớn. Ăn nói phải khiêm nhường, từ tốn, không nói quá to, gây ồn ào.  Hết giờ làm việc trước khi ra về phải ngắt điện, tắt máy vi tính, khóa các chốt cửa  bảo đảm an toàn cơ quan, đơn vị (nếu được phân công).  Coi đồng nghiệp như người thân trong gia đình mình. Thấu hiểu chia sẻ khó khăn trong công tác và trong cuộc sống.  Khiêm tốn, chân thành, tôn trọng sở thích cá nhân, bảo vệ uy tín, danh dự của đồng nghiệp. Không ghen ghét, đố kỵ, lôi bè kéo cánh, phe nhóm gây mất đoàn kết nội bộ.  Luôn có thái độ cầu thị, thẳng thắn, chân thành tham gia góp ý trong công việc, cuộc sống. Không suồng sã, nói tục trong hội họp, sinh hoạt.  Hợp tác, giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. + Ứng xử với trẻ  Thương yêu trẻ, xem trẻ như con cháu trong gia đình.  Tôn trọng nhân cách trẻ, mềm mỏng nhưng kiên quyết để đưa trẻ vào nề nếp nhà trường.  Luôn tạo điều kiện để trẻ vươn lên trong học tập. Không có thái độ trù dập trẻ. * Quản lý phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên tại cơ sở giáo dục mầm non Đối với giáo viên mầm non (GVMN), khác với giáo viên (GV) các bậc học khác, để thực hiện tốt hoạt động cụ thể của mình, đó là nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các cháu, người giáo viên phải có những năng lực nhất định như: – Khi nói đến hoạt động giáo dục trẻ thì người giáo viên cần có năng lực xây dựng chương trình giáo dục, năng lực lập kế hoạch giáo dục dài hạn, năng lực xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho trẻ, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục…, và kèm theo các kĩ năng cụ thể. – Khi nói đến hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ thì người giáo viên cần có: năng lực trong thái độ ứng xử và ý thức trong việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ, năng lực truyền đạt và hướng dẫn trẻ thực hiện những yêu cầu của giáo viên, năng lực tổ chức thực hiện việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ. Những năng lực này được thể hiện qua hàng loạt các kĩ năng trong khi làm việc với trẻ như những kĩ năng tổ chức cho trẻ ăn, ngủ, kĩ năng tổ chức cho trẻ vệ sinh cá nhân Đứng trước thời kì đổi mới của đất nước, người GVMN rất cần thiết phải rèn luyện và nâng cao năng lực nghề nghiệp của mình, đặc biệt là Năng lực sư phạm. (Gồm các năng lực thuộc về nhân cách; các năng lực dạy học; các năng lực tổ chức – giao tiếp). Giáo viên có những năng lực sư phạm là người đã tích lũy được vốn tri thức, hiểu biết về kĩ năng nhất định để làm được những công việc chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non. Ngoài ra, để thuận lợi trong quá trình lựa chọn việc làm, hay có thể thành công hơn trong nghề nghiệp sau này, GVMN cần phải có năng lực sư phạm chuyên biệt, như: hát hay, múa dẻo, đàn giỏi, vẽ tranh đẹp, làm đồ chơi tài tình, kể chuyện hấp dẫn, … Những năng lực chuyên biệt này sẽ giúp họ có được những hoạt động mang tính hấp dẫn, sinh động, gây được nhiều hứng thú đối với trẻ nhỏ, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cảm xúc thẩm mĩ, đạo đức của các em. Đây cũng là những mặt mạnh, là những đánh giá nổi bật về khả năng của người giáo viên mầm non. Bên cạnh đó, mỗi GVMN đều phải hiểu được đặc điểm lao động của nghề là: luôn thể hiện các chức năng chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ thơ, lấy quan hệ tình cảm yêu thương mẹ – con làm yếu tố quyết định. Vì thế, lòng yêu trẻ là phẩm chất số 1 trong nhân cách một GVMN đích thực. GVMN không chỉ là người thầy vun đắp tri thức, mà còn thực sự là người mẹ hiền thứ hai của các em. Nếu không yêu thương trẻ và đam mê với nghề thì việc trở thành GVMN trong thời đại mới đã khó, mà trụ vững được với nghề còn khó khăn hơn nhiều… Một số biện pháp nâng cao năng lực nghề cho giáo viên mầm non
  • Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sư phạm với nhiều hình thức khác nhau.
Hàng năm GVMN cần thường được tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ, không chỉ vào thời gian đầu năm học do trường, phòng/ sở GD tổ chức, mà trong suốt quá trình làm việc GV đều phải có ý thức tự học: tham gia các buổi dự giờ, sinh hoạt chuyên môn cùng đồng nghiệp, tham quan các trường bạn về cách sắp xếp, tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ; tìm hiểu chương trình CSGD của các trường, các nước khác trọng khu vực qua các cuộc họp, hội thảo; tham dự các hội thi của ngành, tham gia các lớp học nâng cao trình độ; xem phim ảnh, học trực tuyến qua truyền hình và internet những nội dung liên quan đến chuyên ngành GDMN; học và tìm hiểu thêm các kĩ năng phòng – xử trí các bệnh và tai nạn thường gặp ở trẻ, kĩ năng ứng xử sư phạm, sử dụng nhạc cụ, sử dụng vi tính, tiếng Anh; học tập nghị quyết của Đảng; học các phương pháp dạy học và học cách làm việc hiệu quả; … Phải tham gia các chương trình bồi dưỡng, tự học qua thực hành trải nghiệm, qua thực tế làm việc.
  • Thành lập các câu lạc bộ.
GVMN rất đa tài, nhiều cô giáo trẻ còn có những sở thích riêng phù hợp với nghề nghiệp. Chẳng hạn, nhiều người ham mê hát, nhạc; nhiều người thích làm đồ chơi (chuyên làm hoa từ các nguyên liệu khác nhau, làm các sản phẩm từ cát, thích gấp giấy…); có bạn trẻ thích làm tranh truyện trẻ em; GV lớn tuổi sáng tác thơ, đan lát,…vv. Nếu thành lập các câu lạc bộ này, GVMN ở các trường có thể giao lưu, học hỏi, thỏa mãn nhu cầu khám phá và sáng tạo của mình. Sản phẩm có được dù là vật chất hay tinh thần cũng giúp các cô giáo vui vẻ hơn, dễ dàng thể hiện các năng lực chuyên biệt trong công tác chuyên môn ở trường mầm non. Tổ chức các hội thi theo nhu cầu và khả năng GV. Tất cả các cuộc thi phải trên quan điểm không áp lực. Mỗi người GV đều có mặt mạnh riêng, những năng lực tiềm ẩn của họ sẽ được khám phá nếu cho họ lựa chọn cách để tự thể hiện mình. Các phòng giáo dục, trường mầm non, ủy ban nhân dân xã,… là người khởi xướng phong trào và động viên GVMN tham gia. Chẳng hạn: ngày 8/3 hội thi “Phụ nữ đa tài”, các cô GVMN đăng kí tham gia thể hiện: hiểu biết kiến thức ngành, nấu ăn (làm bánh, nấu chè), làm đồ dùng đồ chơi, ca hát, sáng tác thơ, đóng kịch, sơ cấp cứu, trang trí lớp học, giờ dạy tốt, ứng xử hay,… Kết quả cuộc thi đều phải được ban tổ chức ghi nhận sự nhiệt tình và cố gắng của họ, các tiết mục (tác phẩm) tốt sẽ lần lượt được công diễn vào dịp thích hợp. Hội thi giống như ngày “hội” thực sự, giúp GV hứng khởi, vừa thoải mái tinh thần, vừa có thêm kinh nghiệm trong chuyên môn nghiệp vụ. Đa dạng hóa các hình thức đánh giá giáo viên Chúng ta cần sử dụng nhiều hình thức khác nhau để đánh giá GV tại những thời điểm khác nhau: Kiểm tra nhận thức xã hội và chuyên môn bằng phiếu trắc nghiệm; quan sát quá trình tổ chức một hoạt động; đàm thoại để biết ý tưởng xây dựng kế hoạch /môi trường học tập cho trẻ; giao một nhiệm vụ nhất định; dự giờ dạy không báo trước, sắp đặt để GV ứng xử các tình huống sư phạm; vv… Đánh giá định kì và đánh giá thường xuyên. Ngoài cán bộ quản lí làm nhiệm vụ kiểm tra, cần lấy nguồn thông tin đánh giá (có minh chứng) từ đồng nghiệp, từ các bậc phụ huynh, từ trẻ,… và tự đánh giá của GV Các hình thức đánh gia cần công khai cho GV biết trước, kết quả đánh giá phải thông báo cho GV. Thay vì tìm kiếm nhược điểm, phải phát hiện được nhiều mặt ưu điểm của mỗi GV. GV sẽ hài lòng nếu kết quả đánh giá là khách quan và chính xác. Cho GV biết họ có năng lực và có thể làm rất tốt lĩnh vực nào đó, đồng thời khuyến khích, động viên họ cố gắng hơn vì tập thể. GVMN được hưởng chế độ theo năng lực Không phải GV nào cũng làm việc giống nhau. Sau mỗi thời gian nhất định, tùy thuộc vào kết quả đánh giá, CBQL xem xét, đề xuất chế độ ưu đãi cho những người có năng lực tốt hơn như: có năng khiếu nổi trội; có khả năng tổ chức rất tốt các hoat động giáo dục trẻ; có khả năng tuyên truyền thành công kiến thức nuôi dạy trẻ tới cộng đồng; thu hút được nhiều trẻ đến trường nhập học; được mọi phụ huynh tín nhiệm; có ý tưởng mới giúp phát triển ngành học,vv… Cho dù là nhiều hay ít, vật chất hay tinh thần, nếu được tập thể ghi nhận thì những “phần thưởng” đó cũng xứng đáng với năng lực và tâm huyết của họ, thúc đẩy sự phấn đấu của cá nhân đối với  nghề nghiệp. Khách quan trong việc tuyển dụng GV vào làm việc tại các trường mầm non. Trường nào, người quản lí nào cũng mong muốn có được nhiều giáo viên tốt. Nhưng thực tế thì không phải GV nào có nhiều năng lực cũng dễ dàng xin được việc làm … Các tiêu chí xét tuyển của các trường, các cán bộ quản lí là khác nhau. (Đây là một trong những lí do ảnh hưởng đến lòng yêu nghề của GVMN). Để có chất lượng giáo dục tốt, các cơ sở chăm sóc giáo dục trẻ phải có kế hoạch bồi dưỡng và xét tuyển đội ngũ giáo viên. Tiêu chí tuyển chọn phải công khai, rõ ràng; sau khi sơ tuyển, GVMN trước khi được đứng lớp thực sự cần trải qua các bài thi (về nhận thức, kĩ năng sư phạm) và thời gian thử thách nhất định. Cả hội đồng sư phạm nhà trường được tham gia đánh giá năng lực của GV mới…. Trước khi nhận GV vào làm việc tại cơ sở GDMN, cần xét đến phẩm chất và lòng yêu trẻ, yêu nghề của GV. Chỉ khi người GV có lòng yêu nghề thì mới có đủ sức mạnh và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn để gắn bó với nghề, và khi thực sự yêu nghề họ mới làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, luôn phấn đấu không ngừng để nâng cao trình độ, năng lực và hoàn thiện bản thân mình. “Người thầy giỏi nhất dạy bằng trái tim chứ không phải từ sách vở”. Xây dựng một tập thể sư phạm lành mạnh, đoàn kết Một tập thể thân ái, đoàn kết, sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ đồng nghiệp cả về vật chất và tinh thần, phát huy truyền thống tốt đẹp của nhà trường, nề nếp, kỉ cương, dân chủ,… sẽ giúp GVMN yên tâm công tác, sẵn sàng vì sự lớn mạnh của tập thể. Bản thân mỗi người GVMN phải biết tự làm đẹp Ai cũng thích mình đẹp và thích thưởng thức cái đẹp. Sẽ là tốt nhất nếu chúng ta giáo dục đạo đức, tình cảm, trí tuệ và thẩm mĩ cho trẻ bằng chính hình ảnh tuyệt vời của cô giáo mầm non. Đúng là yếu tố ngoại hình của cô giáo rất quan trọng đối với trẻ. Nhưng không có nghĩa là phải ăn mặc diêm dúa hay trang điểm cầu kì, “Cô giáo đẹp” thể hiện vẻ đẹp của tâm hồn và vẻ đẹp trí tuệ. Các cô cần có cơ thể khỏe mạnh, có ánh mắt vui tươi, thân thiện, có lời nói dịu dàng, cách ăn mặc lịch sự, dáng đi, cử chỉ, hành vi, cách ứng xử,…phải thể hiện người có văn hóa cao và chuẩn mực – xứng đáng là “thần tượng” của các cháu. Mỗi một cô giáo đẹp sẽ có cả một nhà trường đẹp.Vì vậy, dù bận rộn vất vả đến đâu cũng cần tạo một tâm lí thoải mái cho cả cô và trẻ “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”….Có thể nói, GVMN là người quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo ở bậc học đầu tiên này. Mỗi đứa trẻ sau này sẽ là ai, sẽ trở thành người như thế nào, nhân cách của trẻ sẽ phát triển ra sao?… Một phần trách nhiệm thuộc về các cô nuôi dạy trẻ, “người mẹ hiền thứ hai” của các em. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ, nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức. GDMN cần khẳng định vai trò và vị trí của mình, mỗi giáo viên MN cần không ngừng tu dưỡng rèn luyện phẩm chất và năng lực, cần tạo cho mình bản lĩnh nghề nghiệp và kĩ năng học tập suốt đời nhằm đáp ứng xu thế phát triển của thời đại.   * Tập huấn thiết kế sử dụng bài giảng E-Learning cho đội ngũ giáo viên mầ non: Công nghệ thông tin (CNTT) đóng một vai trò quan trọng trong giáo dục, là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Đặc trưng của CNTT là khả năng vượt thời gian và không gian. CNTT khiến việc học không nhất thiết phải đồng bộ, không cần thiết trùng khớp về thời gian giữa dạy và học, cũng không cần phải có tất cả các học viên và giảng viên tại cùng một địa điểm. CNTT giúp tiếp cận những tài liệu học tập từ xa và với những chuyên gia, nhà nghiên cứu, giáo sư và các bạn bè ở khắp thế giới. Xu thế tất yếu Đối với công tác bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, bồi dưỡng qua mạng đang trở thành xu thế tất yếu trong thời đại toàn cầu hóa đáp ứng tiêu chí: học suốt đời, học mềm dẻo và học theo nhu cầu. Hiện nay, đa số các trường đại học trên thế giới đều dùng hệ thống học tập trực tuyến (như BlackBoard và Moodle) để hỗ trợ việc học tập và bồi dưỡng tập trung trên lớp. Ví dụ, học viên có thể tải các bài giảng về, nộp bài tập lớn, đưa lên các thông báo/tin tức/sự kiện, làm việc nhóm, và thảo luận… mô hình kết hợp này gọi là blended learning (học tập kết hợp). Hệ thống học tập trực tuyến cũng có thể thay thế hoàn toàn cho việc học trên lớp, học viên không phải đến lớp và học đa số thời gian trên mạng Internet. ELearning là thuật ngữ mô tả việc giảng dạy và học tập sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, nó bổ sung và tồn tại song song với cách học tập truyền thống. Bài giảng eLearning khác với bài giảng trình chiếu trên lớp (ví dụ dùng PowerPoint) ở chỗ nó bao gồm đầy đủ multimedia (ảnh, video, audio, flash), tương tác trực tiếp với người học thông qua các chò trơi học tập, theo dõi được quá trình học tập, kiểm tra và đánh giá được trình độ của học viên, tuântheo chuẩn quốc tế có thể đưa lên và quản lý được bởi các hệ thống học tập trực tuyến Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường là nhiệm vụ hàng đầu để khắc phục những hạn chế trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục mầm non, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giáo viên. Bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường là công việc mang tính chiến lược, phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài để xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu và có chất lượng cao. Mặt khác, công tác bồi dưỡng giáo viên mang tính cấp bách bởi nhà trường phải thực hiện ngay những yêu cầu của năm học, những chỉ đạo của ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới chương trình, phương pháp dạy học * Tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng trải nghiệm cho trẻ ở trường mầm non:   Hoạt động trải nghiệm là một cách học thông qua thực hành, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có của trẻ. Hoạt động trải nghiệm của trẻ sử dụng tất cả các giác quan (nghe, nhìn, chạm, ngửi…) để có thể tăng khả năng lưu giữ những điều đã tiếp cận được lâu hơn. Hoạt động trải nghiệm giúp trẻ có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính năng động và thích ứng. Trẻ được trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp, từ đó giúp phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin. Hoạt động trải nghiệm giúp cho việc học trở nên thú vị hơn với trẻ giúp giáo viên chủ động sáng tạo khi thực hiện các hoạt động trên lớp. Trong các hoạt động trải nghiệm, giáo viên mầm non có vai trò định hướng, hỗ trợ, đánh giá, uốn nắn, sửa sai cho trẻ. Tùy thuộc vào từng hoạt động trải nghiệm, giáo viên đưa ra các tình huống có vấn đề để trẻ trải nghiệm với các tình huống đó. Hoạt động trải nghiệm dựa trên hình thức lấy trẻ làm trung tâm thực hiện tại các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Lâm đồng giúp trẻ em ngày càng năng động hơn, hình thành nét tư duy mới, kỹ năng mới đó là kỹ năng lĩnh hội và sáng tạo bản thân giúp trẻ mạnh dạn, tự tin phát triển phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế trong thời đại hiện nay của nền giáo dục Việt Nam tiên tiến. * Phòng chống bạo lực học đường: Tôi cho rằng bạo lực học đường đang là vấn đề làm nhức nhối lòng người và cần có các giải pháp căn cơ Bạo lực trẻ em: là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.           Bạo lực học đường ở cơ sở GDMN là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính miệt thị, đe dọa hoặc tẩy chay, thờ ơ, bỏ mặc hoặc dùng sức mạnh thể chất để khủng bố người khác để lại thương tích trên cơ thể thậm chí dẫn đến tử vong hoặc gây tổn thương đến tâm lý cho những đối tượng tham gia vào quá trình chăm sóc, giáo dục ở cơ sở GDMN  Ngoài một số hình thức “đặc thù”, bạo lực học đường cũng diễn ra như bạo lực ở những môi trường khác, rất nguy hiểm: bằng lời trực tiếp hoặc gián tiếp (mắng chửi, sỉ nhục, đe dọa nhau bằng lời nói hoặc dùng mạng xã hội…); bằng hành vi (bắt quỳ, uống nước bẩn, liếm ghế, nhéo tai, tát, đấm, đá…); bằng dụng cụ (gậy gộc, dao kéo, gạch đá…).Bạo lực học đường đến từ nhiều phía Bạo lực đến từ học sinh (HS), cả nam lẫn nữ. Có thể xảy ra trong trường và ngoài trường. Các em được giáo dục thường xuyên về lòng nhân ái, về nội quy trường lớp, về pháp luật…, nhưng không phải HS nào cũng tiếp thu và có nhận thức đúng đắn. HS còn nhiễm những thói hư, tật xấu ngoài xã hội, thậm chí trong một số ít gia đình. Bạo lực đến từ giáo viên. Tuy được đào tạo bài bản từ các trường sư phạm, có luật, quy chế, điều lệ nghiêm cấm các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể HS nhưng vẫn có những giáo viên do nhận thức hoặc không kiềm chế được cảm xúc đã có những hành vi bạo lực HS, nhất là HS nhỏ (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở). Bạo lực đến từ người thân của HS (cha, mẹ, anh, chị…). Khi con em mình “có chuyện” ở trường, gia đình đưa người đến gây áp lực, thậm chí bạo lực với HS, cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường nhằm “bảo vệ” con em mình. Cuộc sống thường xảy ra mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực không bao giờ là cách đúng đắn, hợp pháp và có hiệu quả! Trẻ em là đối tượng được ưu tiên bảo vệ. Môi trường chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em chủ yếu ở trường học (tập trung) và gia đình (cá thể). Chống bạo lực học đường là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và cấp thiết trong tình hình hiện nay. * Chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị viêm đường hô hấp và tiêu chảy: Tiêu chảy là tình trạng khi trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc nhiều nước trên 3 lần 1 ngày, thường hay xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là những trè từ 6 tháng tuổi đến 2 tuổi. Tiêu chảy cấp xảy ra đột ngột kéo dài không quá 14 ngày (thường dưới 7 ngày). Tiêu chảy kéo dài là khi bị tiêu chảy trên 2 tuần hoặc nhiều hơn. Trẻ em bị tiêu chảy thường bị suy dinh dưỡng và có thể dẫn tới tử vong, do cơ thể mất một lượng nước và muối lớn. Một nguyên nhân quan trọng nữa gây ra chết là lỵ. Để giúp trẻ phục hồi nhanh sau tiêu chảy và tránh suy dinh dưỡng cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, ăn càng sớm càng tốt khi chúng muốn ăn. Chế độ ăn uống của trẻTrong điều trị tiêu chảy, điều quan trọng nhất là đề phòng mất nước, nhanh chóng điều trị mất nước và chế độ ăn của trẻ. Để phòng mất nước ngày tại nhà bằng cách cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thườngnhư ORS (oresol), nước đun sôi để nguội, hoặc các dung dịch chế từ thực phẩm nhưcháo, nước cháo muối, nước gạo rang, nước cơm… Nếu có mất nước phải đưa trẻ đến gặp cán bộ y tế cơ sở hoặc trạm y tế để điều trị. Cách điều trị mất nước tốt nhất là cho trẻ uống ORS và các loại dung dịch chế từ thực phẩm. Số lượng dung dịch cần cho uống tại nhà sau mỗi lần đi ngoài: – Trẻ dưới 2 tuổi: 50 – 100ml. – Trẻ từ 2 – 10 tuổi: 100 – 200ml. – Trẻ từ 10 tuổi trở lên và người lớn: uống theo nhu cầu. Các loại dịch dùng trong điều trị ORS và cách pha: rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi pha. Đổ bột gói vào một cái bình ấm hay ấm tích nước sạch. Đong một lít nước sạch (hoặc một lượng nước thích hợp với từng loại gói được dùng), tốt nhất là nước đun sôi để nguội, trong trường hợp không thể có được thì dùng nước nào sạch nhất. Đổ nước vào bình chứa và lắc kỹ cho đến khi bột hòa tan hoàn toàn. Đậy bình lại và cho trẻ uống trong vòng 24 giờ. Đổ dung dịch đã pha đi khi đã quá 24 giờ và pha lại dung dịch mới. – Nước cháo muối: dùng một nắm gạo, một nhúm muối và 6 bát ăn cơm nước sạch rồi đun nhừ, lọc qua rá, lấy nước cho trẻ uống dần. – Nước gạo rang muối: lấy 50g gạo (một vốc tay) đem rang vàng, cho 6 bát nước đem nấu nhừ lọc qua rá cho 1 thìa cà phê muối ăn vào rồi cho trẻ uống dần. – Nước chuối, nước hồng xiêm: chuối hoặc hồng xiêm 5 quả xay hoặc nghiền nát với 1 lít nước sôi để nguội + 1 thìa cà phê gạt ngang muối ăn, cho trẻ uống dần. – Súp cà rốt muối: cà rốt 500g, muối ăn một thìa cà phê gạt ngang, 8 thìa cà phê đường. Cà rốt nấu nhừ chà qua rá hoặc cho vào máy xay sinh tố xay nhừ, cho một nhúm muối đun sôi lại, cho trẻ uống Bệnh viêm đường hô hấp  Là bệnh do vi trùng hoặc siêu vi trùng gây ra. Biểu hiện của bệnh là sốt, sổ mũi, ho, đau họng, khó thở, nôn,… Trẻ có thể có 1 triệu chứng hoặc có cùng 1 lúc nhiều triệu chứng. Nếu bệnh do siêu vi gây ra thì chỉ điều trị triệu chứng trong vòng 3 – 5 ngày bệnh sẽ tự khỏi. Khi tác nhân gây bệnh là vi trùng, bác sỹ sẽ chỉ định kháng sinh để điều trị cho bé. Tùy theo tình trạng bênh, thời gian sử dụng kháng sinh từ 5 – 14 ngày. Các mẹ cần tuân thủ đúng y lệnh của bác sỹ để tránh tình trạng kháng thuốc nhanh chóng và bệnh tái phát lại.  +. Chăm sóc bé bị viêm đường hô hấp tại nhà
  1. Hạ sốt cho bé
 Chỉ sử dụng thuốc hạ sốt khi bé sốt từ 38 độ C trở lên (dưới 38 độ C chỉ cần cho bé uống nhiều nước và mặc quần áo thoáng). Thuốc hạ sốt chính đều là dạng paracetamol, liều dùng 10 – 15mg/1kg cân nặng. Nếu hạ sốt rồi mà bé vẫn sốt cao, nên cho bé tắm nước ấm (ướt cả đầu) để hạ nhiệt nhanh, tránh co giật do sốt cao.
  1. Bé sổ mũi
  Lau mũi cho bé bằng khăn mềm, khô. Giữ ấm cơ thể trẻ. Tại mùa hè, không cho trẻ mặc quần áo quá dày, tránh cho bé nằm ngay luồng quạt máy, gió máy lạnh phà ra… Nhiệt độ phòng nên để từ 25 độ C trở lên.
  1.   Bé nghẹt mũi
   Dùng dịch nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) nhỏ làm loãng mũi cho bé, sau đó hút sạch và ngoáy khô mũi bằng tăm bông khô, sạch.
  1.   Bé ho
    Nguyên nhân có thể do tình trạng tăng tiết đờm nhớt, tăng xuất tiết do co thắt cơ các đường hô hấp. Tùy theo cơ chế gây ho mà các bác sỹ quyết định sử dụng thuốc giảm ho loại nào cho bé. Các mẹ nên cho bé uống nhiều nước và vỗ lưng cho con thường xuyên giúp loãng đờm, long đờm, giảm ho cho bé.
  1.     Bé nôn
       Có thể do đờm đặc, do bệnh trở nặng, các mẹ phải cho con tái khám để xác định bệnh và điều trị.
  1.       Bé biếng ăn
       Có nhiều nguyên nhân: ở giai đoạn ủ bệnh bé có tình trạng mệt mỏi, biếng ăn. Khi bị bệnh, biếng ăn xảy ra do bé đau họng, nghẹt mũi, do sử dụng kháng sinh dài ngày làm rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột.           III. Chăm sóc dinh dưỡng
  1.       Chuẩn bị cho bé ăn
       – Làm sạch mũi: hút sạch mũi, ngoáy khô bằng tăm bông.         – Thức ăn: nấu mềm, lỏng ( đảm bảo 4 nhóm thực phẩm giàu năng lượng: bột, đạm, béo, rau).         – Chuẩn bị khăn mềm lau cho bé khi ăn, không dùng khăn ướt và chạm vào mũi,… gây lạnh và chảy nước mũi liên tục.        – Thực phẩm ăn kiêng: đồ ăn, uống lạnh và các loại thực phẩm gây dị ứng cho bé.
  1.    Cho bé ăn
    – Ăn thức ăn ấm.   – Khi bé biếng ăn: lượng thức ăn/bữa giảm bớt, tăng số bữa ăn/ngày. Tăng cường loại thức ăn bé yêu thích.     – Khi bé không muốn ăn nữa thì phải ngừng ngay, lúc cho bé ăn cần đút chậm hơn. Sau đó bổ sung các món ăn mà bé thích (sữa chua, các loại bánh,…).
  1.    Cho bé nhập viện
  Khi bé có các triệu chứng thở nhanh, sốt cao liên tục từ 3 – 5 ngày, nôn trớ nhiều bé không ăn, uống được gì. * Vấn đề giới trong giáo dục mầm non: Nói đến Bình đẳng giới thì có thể nói đây là một vấn đề mà xã hội hiện nay rất quan tâm. Bình đẳng giới không những tạo sự công bằng trong xã hội mà còn tác động tích cực đến sự phát triển xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa sâu sắc vì giáo dục là ngành mà lao động nữ chiếm rất cao trong tổng số lao động toàn ngành. Đặc biệt đối với bậc học Mầm non thì tỉ lệ lao động nữ chiếm 95,4%, chính vì thế việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ trong lĩnh vực giáo dục mầm non là rất quan trọng. Ở bậc mầm non, chương trình được triển khai hướng tới cả 3 đối tượng là trẻ, giáo viên và phụ huynh. Đối với trẻ, chương trình nhằm giúp các em biết bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại ngay cả khi không có người lớn bên cạnh; giúp các em hiểu về cơ thể mình để biết tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác. Với giáo viên, chương trình sẽ trang bị những kiến thức, kỹ năng và phương pháp về giáo dục giới tính cho trẻ một cách khoa học, biết tổ chức các hoạt động giáo dục giới tính phù hợp với từng lứa tuổi; đồng thời có kiến thức, kỹ năng trao đổi với cha mẹ về giáo dục giới tính cho trẻ. Còn với phụ huynh, chương trình hướng tới thay đổi quan điểm, nhận thức cho phụ huynh trong việc giáo dục giới tính cho trẻ; trang bị kiến thức và hiểu biết về giáo dục giới tính để quan tâm và trao đổi thường xuyên hơn với trẻ về vấn đề này nhằm phối hợp với nhà trường tốt hơn. Nội dung chương trình sẽ nhẹ nhàng ở mức nhận biết giới tính, kỹ năng chăm sóc bản thân, bảo vệ cơ thể, cách phòng tránh nguy hiểm; những nguyên tắc và giới hạn trong việc bảo vệ thân thể; những kiến thức minh họa về vùng kín và phương thức bảo vệ… * Xử trí phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mầm non: Tai nạn thương tích ở trẻ em là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong và di chứng tàn tật suốt đời cho trẻ. Mặc dù nhiều biện pháp phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em đã và đang được thực hiện, nhưng tình hình trẻ nhập viện vì tai nạn thương tích vẫn chưa giảm. Phần lớn các trường hợp tai nạn thương tích trẻ em xảy ra là do sự bất cẩn của người lớn. Bởi vậy, hạn chế tối đa tai nạn thương tích cho trẻ trước hết cần sự quan tâm, chăm sóc của các bậc phụ huynh. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích ở trẻ nhưng sâu xa là do sự bất cẩn của người lớn. Dù ở môi trường nào cũng vậy, trẻ vẫn có thể gặp những nguy cơ xảy ra tai nạn như: bỏng nước sôi, nuốt phải dị vật, bị điện giật do cho tay vào ổ điện, ngã cầu thang… Như chúng ta đã biết tai nạn thương tích thường bất ngờ xảy ra, không có nguyên nhân rõ ràng, khó lường trước được và gây ra những thương tổn trên cơ thể người và có thể xảy ra mọi lúc, mọi nơi nhất là ở lứa tuổi học sinh mầm non. Vì ở lứa tuổi này các em thường hiếu động, thích tò mò, nghịch ngợm và chưa có kiến thức, kỹ năng, phòng tránh nên rất dễ bị tai nạn thương tích. Vì vậy để hạn chế nguy cơ mắc và tử vong do tai nạn thương tích chúng ta cùng tìm hiểu về tai nạn thương tích và các biện pháp phòng tránh. * Phân loại tai nạn thương tích theo nguyên nhân: – Tai nạn thương tích do giao thông: Là những trường hợp xảy ra do sự va chạm, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan người tham gia giao thông gây nên…. – Bỏng: Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, lửa, các tai nạn thương tích da do các tia cực tím, phóng xạ, điện, chất hóa học, hoặc tổn thương phổi do khói xộc vào. – Đuối nước: Là những trường hợp tai nạn thương tích xảy ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng, dầu) dẫn đến ngạt do thiếu oxy hoặc ngừng tim dẫn đến tử vong trong 24 giờ hoặc cần chăm sóc y tế hoặc dẫn đến các biến chứng khác. – Điện giật: Là những trường hợp tai nạn thương tích do tiếp xúc với điện gây nên hậu quả bị thương hay tử vong. – Ngã: Là tai nạn thương tích do ngã, rơi từ trên cao xuống – Động vật cắn: Chấn thương do động vật cắn, húc, đâm phải… – Ngộ độc: Là những trường hợp do hít vào, ăn vào, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cần có chăm sóc của y tế (do thuốc, do hóa chất, nấm – Máy móc: là tai nạn do tiếp xúc với vận hành của máy móc… – Bạo lực: Là hành động dùng vũ lực hăm dọa, hoặc đánh người của cá nhân, nhóm người, cộng đồng khác gây tai nạn thương tích có thể tử vong, tổn thương… * Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích: Để phòng tránh tối thiểu các tai nạn thương tích xảy ra tại trường hay ở nhà, giáo viên cũng như các bậc phụ huynh có ý thức và thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa. – Phòng ngã: Củng cố cơ sở vật chất của trường, cụ thể: + Sân trường cần bằng phẳng và không bị trơn trượt + Cửa sổ, hành lang, cầu thang phải có tay vịn, lan can. + Không cho trẻ học và chơi gần những lớp học không an toàn như tường nhà, ta luy có nguy cơ sập xuống. Đồng thời phải cho sửa chữa ngay. + Những cây ở sân trường cần có bồn rào để ngăn trẻ không leo trèo . + Bàn ghế hỏng, không chắc chắn phải được sửa chữa ngay. + Dụng cụ thể dục thể thao phải chắc chắn, đảm bảo an toàn. + Đi chơi đúng nơi quy định và thực hiện theo sự hướng dẫn. – Phòng ngừa đánh nhau, bạo lực trong trường học + Giáo dục ý thức cho các em không được xô đẩy, đánh nhau trong trường. + Không cho các em mang đến trường các vật sắc nhọn nguy hiểm như dao, kiếm, súng cao su và các hung khí. + Giáo viên thường xuyên quản lý, giám sát trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, giáo dục trẻ đoàn kết. – Phòng ngừa tai nạn giao thông + Trường phải có cổng, hàng rào. + Trong giờ học, giờ chơi phải đóng cổng, không cho trẻ chạy ra đường chơi khi trường ở gần đường. + Phải có biển báo trường học cho các loại phương tiện cơ giới ở khu vực gần trường học. + Hướng dẫn học sinh thực hiện luật an toàn giao thông. + Tuyên truyền phụ huynh không đi xe máy trong sân trường. – Phòng ngừa bỏng, nhiễm độc + Bảng điện ở phòng học và các phòng chức năng khác phải để cao, tuyệt đối không để bàn là, đồ đun nấu trong phòng, nhóm của trẻ. + Không cho học sinh tới bếp nấu nướng và chia ăn ở nhà bếp. + Luôn quan tâm chăm sóc trẻ, không để trẻ chơi một mình ở các nơi có thể xảy ra tai nạn. + Để thuốc và hóa chất ngoài tầm tay với của trẻ em. Không cho trẻ em tự uống thuốc. – Phòng ngừa đuối nước + Trẻ em cần rèn luyện thể lực và biết bơi theo quy định. + Khi đi bơi phải tuân thủ quy tắc an toàn. + Không cho trẻ ra gần ao hồ, sông suối một mình . + Ở vùng lũ, học sinh đi học qua sông suối phải có người lớn đưa và phải đảm bảo an toàn. + Khi đi đò, thuyền,… phải mặc áo phao bảo hộ + Giếng, bể nước trong trường phải có nắp đậy an toàn. + Không để thùng, chậu có nước không phòng, nhóm lớp. – Phòng ngừa điện giật + Luôn kiểm tra các đồ dùng bằng điện, che kín các ổ điện ở thấp không cho trẻ nghịch + Hệ thống điện trong lớp phải an toàn: không để dây trần, dây điện hở, bảng điện để cao. – Phòng ngừa ngộ độc thức ăn + Không bán quà bánh trong trường và không ăn hàng rong xung quanh cổng trường. + Thực phẩm do thức ăn nhà bếp, nước uống phải đảm bảo vệ sinh, rõ nguồn gốc. Phải có hợp đồng cam kết mua bán thực phẩm sạch rõ nguồn gốc với công ty cung cấp. Trường có cán bộ theo dõi về y tế học đường và có tủ thuốc cấp cứu. Còn rất nhiều nguy cơ dẫn đến tai nạn thương tích ở trẻ em, cách phòng ngừa hiệu quả nhất là sự quan tâm chú ý của người lớn khi trông trẻ. Chỉ một phút thiếu tập trung có thể dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, người lớn cần trang bị cho trẻ nhỏ những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất để tự bảo vệ mình từ khi trẻ bắt đầu hình thành những ý thức đầu tiên. Vì tương lai tốt đẹp của con em chúng ta, mỗi người hãy nâng cao ý thức chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, tạo môi trường an toàn và lành mạnh để trẻ em phát triển toàn diện, góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho đất nước.​ * Chăm sóc vệ sinh cho trẻ nhà trẻ:
  1. Mục đích yêu cầu:
– Giúp giáo viên nắm được các thao tác vệ sinh chăm sóc trẻ và làm thành thạo, đúng các thao tác . – Biết thực hiện những nội dung thực hành chăm sóc về cách tổ chức cho trẻ ăn, ngủ, chăm sóc vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường trong trường mầm non.
  1. Nội dung:
* Tổ chức chăm sóc trẻ:
  1. Nhu cầu về nước uống: Hằng ngày trẻ cần được uống nước đầy đủ, nhất là về mùa hè, lượng nước đưa vào cơ thể trẻ (dưới dạng nước uống, thức ăn, hoa quả). Nhu cầu về nước của các độ tuổi:
– 12-18T : 1,3 – 1,5 lít/ngày/trẻ. – 18 -36T: 1,5 – 1,6 lít/ngày/trẻ.
  1. Lau mặt:
  2. Yêu cầu: Mỗi trẻ một khăn mặt sạch, giặt, phơi nắng.. Nếu có điều kiện luộc hằng ngày, hoặc mỗi tuần luộc 2,3 lần
– Lau theo trình tự, mỗi chổ lau sử dụng một góc khăn sạch khác nhau – Mùa đông: Lau bằng khăn ấm (dấp nước nóng và vắt khô)
  1. Chuẩn bị:
– Cô rửa tay sạch – Vắt khăn mặt cho hết nước, số khăn bằng số trẻ và dư vài cái. – Chậu hay xô 2 cái: 1 đựng khăn sạch, 1 đựng khăn bẩn – Giá để chậu (nếu có), giá cao 50-55cm có 2 tầng, tầng trên để chậu khăn sạch, tầng dưới để chậu khăn bẩn. – Ghế cô ngồi.
  1. Cách lau :
– Cô ngồi ghế, chậu khăn sạch (hoặc giá đặt chậu) để bên phải gần cô – Trẻ đứng hơi nghiêng người tựa lưng vào đùi cô. – Một tay cô nhẹ nhàng đỡ phía sau đầu trẻ, tay kia cô trải khăn trên lòng bàn tay dùng ngón cái và ngón giữa lau từng mắt trẻ trước, lau tiếp mũi mồm. Gập hoặc lật khăn lại, mỗi mặt khăn lau một bên trán má và lau lại cằm cổ. – Bỏ khăn bẩn vào chậu đựng khăn bẩn, lấy khăn sạch khác lau cho trẻ khác . * Chú ý : + Nếu có điều kiện cô vò từng khăn dưới vòi nước chảy và lần lượt rửa cho từng trẻ . + Lau mặt trước rửa tay sau. + Lau cho trẻ phải nhẹ nhàng, không vạch mi mắt, không lau 2 mắt cùng một lúc, không lau răng lợi + Trẻ có chóc, chàm, mụn, lở phải lau sau cùng và giặt khăn riêng. III. Rửa tay . 1.Yêu cầu : Rửa tay trẻ trước và sau khi ăn, sau khi chơi có tiếp xúc với đất cát – Rửa dưới dòng nước chảy, không rửa tay nhiều trẻ vào chung một chậu nước. – Mùa đông rửa bằng nước ấm
  1. Chuẩn bị :
– Thùng có vòi đựng nước sạch để trên giá cao vừa tầm tay trẻ (50-55cm) Nếu đựng nước vào xô hay chậu, phải có gáo múc. – Xô hay chậu hứng nứơc bẩn . – Khăn lau tay khô, treo gần thùng nước rửa tay. -Tải khô trải dưới chân chổ trẻ đứng rửa. – Xà phòng – Ghế cô ngồi – Cô rửa sạch tay trước khi rửa cho trẻ
  1. Cách rửa
– Cô ngồi ghế, dụng cụ (giá, thùng nước) để phía trước hơi chếch về bên – Trẻ đứng bên trái cô, tư thế thoải mái.Tay trái cô cầm đỡ phía dưới cổ tay trẻ , tay phải cô rửa từng tay cho trẻ, bàn tay trẻ để xuôi sấp dưới dòng nước chảy, lần lượt rửa từ mu bàn tay đến kẽ, và đầu ngón tay. Lật ngửa tay lại, rửa lòng bàn tay và ngón tay – Nếu tay trẻ dây mỡ, nước mắm phải được rửa bằng xà phòng. – Khi rửa cô không co kéo tay trẻ, bắt trẻ cúi hoặc ngồi rửa, tay áo trẻ được xắn cao (Nếu trẻ mặc áo dài tay). – Trẻ dưới 24 tháng, rửa xong cô lau tay cho trẻ, trẻ trên 24 tháng, cô hướng dẫn trẻ tự lau.
  1. Rửa đít :
1.Yêu cầu : – Rửa nhẹ nhàng bằng tay (tuyệt đối không rửa bằng chân hoặc bằng một vật khác) – Rửa bằng vòi nước (hoặc dùng gáo múc nước dội, không rửa chung trong cùng một chậu) – Rửa xong lau khô cho trẻ (nên mỗi trẻ 1 khăn, khăn này phải dược giặt hằng ngày). – Mùa đông phải được rửa bằng nước ấm . 2.Chuẩn bị : * Rửa cho trẻ dưới 19 tháng: bế trẻ để – Cô ngồi bế trẻ để rửa: thùng có vòi nối dài 50 – 55cm * Rửa cho trẻ trên 19 tháng : để trẻ ngồi xổm, cô rửa bằng vòi dây cao su. – Ghế hoặc bậc cho trẻ ngồi – Ghế cô ngồi – Thùng nước có vòi nối dây cao su dài 60cm-1m. – Nên có thêm xô đựng quần bẩn – Xà phòng
  1. Cách rửa :
* Trẻ dưới 19 tháng: bế để rửa Một tay cô bế, cổ, vai và phần trên lưng của trẻ đặt trên cánh tay cô, bàn tay cô cầm đùi đầu gối trẻ; tay kia cô để dưới đùi, chân kia của trẻ để rửa; dùng ngón tay cái rửa bộ phận sinh dục và 2 bên trước, dùng tiếp 2, 3 ngón giữa rửa hậu môn rồi đến hông.  Cô rửa tay xà phòng sau khi rửa đít cho trẻ . Rửa xong thấm khô cho trẻ ngay TỔ CHỨC VÀ THAO TÁC CHO TRẺ ĂN Ở NHÓM. Nguyên tắc chung: – Trẻ ngồi ăn phải có bàn, ghế hoặc đồ dùng thay thế bàn, ghế. – Tuyệt đối không để trẻ ngồi ăn dưới đất. – Bàn ghế được lau bằng khăn sạch, ẩm trước bữa ăn. – Cô phải rửa tay sạch, đeo khẩu trang trước khi pha sữa, chia thức ăn và cho trẻ ăn – Trẻ vào ăn sau khi đã đi vệ sinh. – Trước khi ăn mặt mũi tay chân trẻ phải sạch sẽ. – Các dụng cụ chia thức ăn và bát, thìa… phải được tráng nước sôi trước khi ăn – Các soong thức ăn phải được đặt trên bàn hoặc ghế. – Chia cơm, cháo, ở bàn khác rồi mới đem ra bàn ăn cho trẻ.
  1. Nhóm cháo:
  2. Chuẩn bị :
– Kê và lau bàn ghế. Mỗi bàn 4-5 ghế có tay vịn và 1 ghế cô. – Bát, thìa,(bằng số cháu có mặt và dư 1 vài cái) muôi, ca, ấm đựng nước uống. – Đặt giữa bàn ăn hướng về phía cô: + 1 khay để khăn mặt sạch, ẩm + 1 khay để ca uống nước có sẵn nước uống. – Trẻ được mặc yếm, lau mặt, lau tay (nếu có điều kiện thì rửa tay).
  1. Chia cháo:
– Cô bày bát ra bàn chia. – Múc nửa bát trẻ ăn hết lại múc tiếp (hoặc múc một lần nếu thiếu cô) nên múc dư ra một ít để cho trẻ nào muốn ăn thêm.
  1. Cho Trẻ ăn:
– Cho trẻ vào bàn ăn, bát của trẻ nào để trước mặt của trẻ đó. Cô ngồi đối diện trẻ, mỗi cô xúc cho từ 4 – 5 trẻ ăn Cô thử cháo nguội vừa tới thì đút cho trẻ ăn Chú ý: Không xúc thìa đầy quá, không bắt trẻ ngửa cổ để xúc cho nhanh, cho dễ.
  1. Ăn xong: Trẻ ngồi tại chỗ, cô lau miệng, lau tay, cho uống nước, cởi yếm và sau đó cho trẻ đi bô.
  2. Nhóm Cơm
1 Chuẩn bị: – Kê và lau bàn ghế trẻ ngồi ăn cơm, 4-6 trẻ mỗi bàn. – Bát, thìa, khăn – Khăn mặt sạch, ướt – Đĩa, khăn ẩm – 1 khăn lau bàn (cô lau) để gần nơi ăn – Mặc yếm, lău mặt, rửa tay, cho trẻ đi đái. Sau đó chuẩn bị tiếp khăn, nước để lau rửa cho trẻ sau khi ăn xong . – Nước Uống 2 Chia Cơm: – Bày bát ra bàn chia cơm – Chia hết thức ăn mặn vào bát trước, xới bằng muôi non nửa bát cơm, rồi trộn đều thức ăn vào cơm – Bát cơm thứ hai, chia tại bàn chia cơm, trộn đều rồi đem lại bàn ăn cho từng trẻ
  1. Cho trẻ vào bàn:
– Cho trẻ ngồi vào chổ qui định, xếp trẻ xúc ăn thạo và trẻ xúc ăn chưa thạo ngồi riêng – Đặt giữa bàn: 1 đĩa đựng thức ăn rơi, 1 đĩa để khăn mặt sạch, ẩm. – Không để trẻ chờ lâu quá 10 phút. – Cô đem cơm ra bàn, nhắc trẻ mời và cầm thìa bằng tay phải. III .Cho trẻ ngủ: 1.Chuẩn bị: – Kê và kiểm tra lại giường, chiếu, chăn, gối. – Nếu nhà trẻ có điều kiện: + Mùa hè: Mở quạt (cháu ngủ, vặn nhỏ dần, không có quạt điện, cô quạt tay cho trẻ). + Mùa đông: Cắm lò sưởi điện. – Cho trẻ đi đái, rửa chân tay sạch sẽ. – Nhắc trẻ kéo quần cho kín bụng. – Mùa đông: cởi bớt áo, nới dây mũ, khuy cổ áo.
  1. Cho trẻ ngủ :
– Khép cửa ra vào, cửa sổ hoặc buông màn. – Cho trẻ nằm đúng chổ của mình, nằm ngay ngắn, không quay mặt vào nhau. Không cho trẻ hát, nói chuyện đùa nghịch – Không cho trẻ nằm đúng dưới quạt trần – Không cho trẻ nằm trên chiếu trãi dưới nền nhà
  1. Trong giờ trẻ ngủ:
– Cô không được ngủ mà phải trực tại chỗ khi trẻ ngủ. – Cô không được làm việc riêng – Sửa tư thế nằm cho trẻ: kéo chăn hoặc kéo quần áo cho trẻ khi trẻ bị hở bụng, hở lưng. – Nếu có trẻ đái, ỉa cô phải thay ngay rồi cho trẻ ngủ tiếp. – Trẻ chưa chịu ngủ hoặc khóc, cô phải dỗ cho trẻ ngủ, không được để trẻ khóc mệt và ảnh hưởng giấc ngủ của trẻ khác (cô có thể hát hoặc mở các bài hát dân ca êm dịu để trẻ dễ đi vào giấc ngủ) – Trẻ bé: có thể vỗ nhẹ vài cái trước khi ngủ, không được ru trẻ ngủ bằng lắc giường hoặc đưa nôi . 4.Trẻ ngủ dậy: – Cho trẻ đi vệ sinh – Cho uống nước (mùa hè) và ăn bữa phụ – Cô thu don giường, chiếu. – Trẻ MG cô hướng dẫn trẻ thu dọn chỗ ngủ vừa sức trẻ như cất gối chiếu.
  1. Rửa và luộc bình sữa:
  2. Chuẩn bị: bình sữa
– 2 chậu to, 2 rổ, giá để rổ. – Xà phòng, chổi lông (nếu không có dùng mút xốp, vải sạch hoặc sơ mướp và ngoáy bằng đũa) – Ghế cô ngồi – Thùng để luộc
  1. Tiến hành:
– Sau khi trẻ ăn xong: Tháo rời nút và vú cao su ra khỏi bình thủy tinh. Ngâm bình, nút, vú cao su vào chậu nước có hòa ít xà phòng. Lấy chổi lông cọ bên trong bình. Cọ từ trên xuống dưới 1 tay cầm chổi lông, tay kia xoay lọ để cọ được hết xung quanh lọ. Ngoáy kỹ đáy lọ, rửa bên ngoài. Chú ý rửa kỹ chổ xoáy nút vì sữa hay đọng lại chổ đấy. + Rửa nút bình (chú ý rửa chổ xoáy nút) + Rửa vú cao su (chú ý rửa lỗ, đầu vú) – Sau khi rửa xà phòng xong, tất cả cho vào chậu thứ hai có nước sạch (tốt nhất là nước ấm) để rửa lại.Tiếp tục thay nước rửa cho đến khi hết nước xà phòng thì cho vào thùng đổ ngập nước đem đun sôi 15-20 phút. Đối với bình sữa bằng thủy tinh tránh đổ nước vừa mới đun sôi vào (nóng đột ngột sẽ gây nứt bình) – Luộc xong vớt ra úp vào rổ thưa để trên giá cao, phơi nắng cho ráo nước. * Hướng dẫn cha mẹ trẻ chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non: Gia đình là môi trường đầu tiên trẻ được tiếp xúc, học hỏi và là nơi để lại dáu ấn lâu nhất của con người. Giáo dục gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đổi với sự phát triển toàn diện của tre. Uu thế của giáo dục gia đình:
  • Trẻ được chăm sóc dạy dỗ bằng tình thương yêu ruột thịt của các thành viên trong gia đình.
  • Người lớn giao lưu trục tiếp và thường xuyên với trẻ trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.
  • Trong gia đình trẻ học đuợc cách ứng xử đa dạng và tự nhiên: mỗi người có đặc điểm riêng trong cách nói, cách ăn mặc, cách ứng xử với trẻ, với người khác… ; nhưng mọi người đều rất mực thương yêu trẻ.
  • Các đồ dùng trong gia dinh cũng rất thiết thực với cuộc sổng của trẻ và đa dạng về chủng loại, màu sắc, công dụng- Đây là môi trường vật chất rẩt tổt cho trẻ tìm tòi, khám phá và học hỏi.
Kết luận: Giáo dục tre trong gia dinh mang tính tích hợp cao. Điều kiện gia dinh cần có để chăm sóc và giáo dục trẻ tốt:
  • Các thành viên trong gia đình phải thực sự thương yêu và đối xử công bằng đối với trẻ: Trẻ phải được gia đình mong đợi, chấp nhận và yêu quý, đối xử công bằng.
  • Gia dinh êm ấm, hoà thuận, có nếp sống tiến bộ, có văn hóa các thành viên trong gia đình luôn phái là tấn gương tổt cho trẻ noi theo.
  • Các thảnh viên trong gia đình phải có những tri thức về khoa học nuôi dạy trẻ và phải dành thời gian chơi với trẻ , dạy tre.
  • Vai trò của cha mẹ vô cùng quan trọng, nếu cha mẹ không biết cách ăn ở sẽ nảy sinh nhiều vấn đề, trong đó mâu thuẫn thưởng sảy ra trong việc nuôi dạy con hằng ngày. Hàng loạt câu hỏi có thể nảy sinh, bạn có thể giúp các bậc cha mẹ trả lời các câu hỏi sau đây:
+ Phân công nhau như thế nào giữa vợ chồng cho hợp lí trong công việc cho con ăn, tắm cho con, chơi với con… + Giáo dục con cái như thế nào để con khôn lớn nên người? Trách nhiệm của cha và mẹ đổi với việc chăm sóc con, dạy con? + Cha mẹ thống nhất cơ bản trong quan điểm, phương pháp nuôi dạy con; Cách đối xử với con khi con bị mắc lỗi hoặc con có những đòi hỏi không hợp lí. +Xứ trí thế nào trong trưởng hợp ông bà đứa trẻ có cách nuôi dạy cháu không hợp lí?
  • Cha mẹ phải hợp tác chặt chẽ cùng nhà trường để được tư vấn cách chăm sóc và giáo dục trẻ Trong các buổi tư vấn, kết quả chỉ có thể đạt được ở cha mẹ khi
+ Cha mẹ tham dụ một cách tự nguyện và mong muốn có sự thay đổi; + Cha mẹ có khả năng thể hiện thái độ riêng của mình (tuy nhiên phải mang tính thúc đẩy, chia Sẻ, thể hiện sự cầu thị). Nhận thúc được tầm quan trọng của giáo dục gia đình (GD GĐ) đối với sự phát triển của mỗi đứa trẻ, do vậy, Đảng, chính phủ đã ban hành nhìều văn bản nhằm thúc xã hội hỗ trợ gia đình thực hiện tốt việc chăm sóc, giáo dục trẻ ngay từ nhỏ.
  1. Nội dung 2: Bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục địa phương theo năm học( 40 tiết)
  + Tình hình phát triển KT-XH, GD VÀ ĐT giáo dục mn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.   Lớp bồi dưỡng chính trị hè 2018- 2019 nhằm bồi dưỡng cho cán bộ,giáo viên, nhân viên ngành giáo dục thị xã những nội dung cơ bản:  Nội dung cơ bản và những điểm mới trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tình hình quốc tế, trong nước nổi bật và những vấn đề kinh tế – xã hội của tỉnh, của địa phương trong 6 tháng đầu năm 2018; Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo tinh thần Kết luận số 03-KL/BTGTW, ngày 25/4/2017 về cuộc họp triển khai Kết luận số 94-KL/TW, ngày 28/3/2014 của Ban Bí thư “về tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”; Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2018 về phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chương trình hành động của ngành giáo dục thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 04-NQ/TW (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Các nội dung về chuyên môn, nghiệp vụ hàng năm theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo kế hoạch, đợt bồi dưỡng chính trị hè 2018 được chia thành 2 giai đoạn: Lớp bồi dưỡng tại huyện diễn ra trong 2 ngày 07-08/8/2018; ngay sau khi kết thúc lớp bồi dưỡng tại huyện, tổ chức các lớp bồi dưỡng cho tất cả cán bộ, giáo viên tại các địa phương, đơn vị. Thông qua các lớp bồi dưỡng chính trì hè năm 2018, cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành giáo dục sẽ quán triệt các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước; tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; nắm bắt tình hình an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế, từ đó có ý thức đúng đắn về chính trị, đạo đức, lối sống, trách nhiệm của công dân, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi thầy, cô giáo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện nhà./. Lớp bồi dưỡng chính trị hè 2018 nhằm bồi dưỡng cho cán bộ,giáo viên, nhân viên ngành giáo dục huyện những nội dung cơ bản:  Nội dung cơ bản và những điểm mới trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII);  Tình hình quốc tế, trong nước nổi bật và những vấn đề kinh tế – xã hội của tỉnh, của địa phương trong 6 tháng đầu năm 2017; Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo tinh thần Kết luận số 03-KL/BTGTW, ngày 25/4/2018 về cuộc họp triển khai Kết luận số 94-KL/TW, ngày 28/3/2014 của Ban Bí thư “về tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”; Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2018 về phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chương trình hành động của ngành giáo dục thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 04-NQ/TW (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Các nội dung về chuyên môn, nghiệp vụ hàng năm theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo kế hoạch, đợt bồi dưỡng chính trị hè 2018 được chia thành 2 giai đoạn: Lớp bồi dưỡng tại huyện diễn ra trong 2 ngày 07-08/8/2018; ngay sau khi kết thúc lớp bồi dưỡng tại huyện, tổ chức các lớp bồi dưỡng cho tất cả cán bộ, giáo viên tại các địa phương, đơn vị. +Hướng dẫn sử dụng HSSS chuyên môn trong các cơ sở giáo dục MN   CÁC QUI ĐỊNH CHUNG
  1. Nhà trường tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nghiên cứu các văn bản về quy định hồ sơ, sổ sách liên quan đến cấp học và nhiệm vụ của mỗi cá nhân để thực hiện theo hướng dẫn của các văn bản của Bộ và của Sở GD&ĐT, Phòng Giáo dục Đông Triều
  2. Hằng năm, BGH nhà trường phải tổ chức rà soát, kiểm tra để có kế hoạch bổ sung đầy đủ các loại hồ sơ, sổ sách cho tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên. Hồ sơ sổ sách phải phù hợp với yêu cầu về nội dung và hình thức theo quy định; bảo đảm tính khoa học cho người sử dụng.
  3. Hồ sơ, sổ sách phải được sử dụng tối đa, hiệu quả. Tất cả cán bộ, giáo viên phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc.
  4. Hiệu trưởng nhà trường phải có biện pháp quản lý để tránh việc lạm dụng ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thực hiện những việc sai qui định như: làm sai lệch thông tin, đặc biệt là kết quả học tập và rèn luyện của học sinh.
  CÁC QUI ĐỊNH CỤ THỂ
  1. I) Quy định hồ sơ sổ sách Giáo dục mầm non:
  2. Hồ sơ quản lý trẻ em bao gồm:
– Đơn, cam kết xin gửi trẻ; Thông tin của trẻ;  sổ theo dõi sức khỏe; phiếu đánh giá trẻ cuối độ tuổi; hồ sơ đánh giá trẻ em theo Chuẩn phát triển; sổ theo dõi trẻ em trong độ tuổi chuyển đi, chuyển đến; – Hồ sơ quản lý trẻ em học hòa nhập (nếu có).
  1. Hồ sơ quản lý nhân sự
– Hồ sơ nhân sự; – Sổ tổng hợp theo dõi cán bộ, giáo viên, nhân viên;
  1. Hồ sơ quản lý chuyên môn;
– Sổ kế hoạch chuyên môn; – Sổ kiểm tra, đánh giá giáo viên, nhân viên;
  1. Hồ sơ quản lý bán trú
– Sổ thu và thanh toán; (thay bằng Sổ theo dõi các khoản thu (nội dung sổ được giữ nguyên); – Sổ xuất, nhập thực phẩm; – Sổ theo dõi khẩu phần ăn; – Sổ giao nhận thực phẩm hàng ngày; – Sổ lưu mẫu thực phẩm;  (thay bằng Sổ kiểm thực ba bước (mẫu sổ do ngành Y tế quy định); – Hợp đồng mua thực phẩm; – Giấy chứng nhận bếp ăn đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.
  1. Sổ lưu trữ các văn bản, công văn
 – Sổ công văn đến;  – Sổ công văn đi;  – Sổ nghị quyết.
  1. Hồ sơ quản lý tài sản, cơ sở vật chất, tài chính.
– Sổ theo dõi tài sản các nhóm lớp – Biên bản thông kê tài sản – Phần mềm quản lý tài sản – Sổ quỹ tiền mặt – Chứng từ thu chi.
  1. Sổ phổ cập giáo dục mầm non
– Danh sách ( thông tin) trẻ điều trong độ tuổi. – Thông tin CVC – Thông tin đội ngũ
  1. Đối với giáo viên
– Sổ theo dõi nhóm, lớp: điểm danh, theo dõi tỉ lệ chuyên cần, bé ngoan; – Sổ theo dõi đánh giá trẻ; – Sổ chuyên môn: dự giờ, tham quan học tập, ghi chép các nội dung sinh hoạt chuyên môn; – Sổ kế hoạch giáo dục trẻ/giáo án; – Sổ theo dõi tài sản nhóm trẻ, lớp mẫu giáo. (Thay thế nội dung Sổ theo dõi tài sản nhóm trẻ, lớp mẫu giáo). + Xây dựng trường MN lấy trẻ làm trung tâm.
  1. Nội dung
  2. Bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong Chương trình Giáo dục mầm non. Yêu cầu về quản lý, chỉ đạo và thực hiện việc xây dựng và sử dụng môi trường giáo dục, xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, đánh giá sự phát triển của trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
  3. Xây dựng môi trường vật chất, môi trường xã hội trong và ngoài lớp học theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
  4. Đổi mới hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ và đánh giá sự phát triển của trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
  5. Tuyên truyền phối hợp, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục để tập trung xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm.
  6. Tiêu chí xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm
  7. Môi trường giáo dục:
  6.1. Đảm bảo an toàn về mặt tâm lý cho trẻ và trẻ thường xuyên được giao tiếp thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và trẻ với những người xung quanh.   6.2. Hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của giáo viên đối với trẻ và những người khác luôn mẫu mực để trẻ noi theo. Luôn tôn trọng ý kiến riêng của trẻ, thường xuyên đánh giá sự tiến bộ của trẻ, luôn động viên trẻ tự tin   6.3. Môi trường vật chất trong lớp, ngoài lớp đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều kiện cho tất cả các trẻ có thể chơi mà học, học bằng chơi, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo an toàn thân thiên đối với trẻ, cụ thể: – Có quy hoạch hợp lý, các khu vực trong nhà trường được quy hoạch thiết kế phù hợp, an toàn sạch đẹp, theo hướng tận dụng các không gian để cho trẻ hoạt động . – Xây dựng môi trường phải thực sự an toàn có tính thẩm mỹ cao, tránh sự ô nhiểm, nguồn nước phải đảm bảo vệ sinh – 60% diện tích sân trường được che phủ cây xanh, cây bóng mát, cây ăn quả, dàn hoa, dàn cây leo, cỏ tự nhiên. Vườn trường được thiết kế khoa học, hợp lý, được trồng nhiều loại cây, rau, hoa…thường xuyên được tu bổ, chăm sóc. – Có biện pháp linh hoạt trong việc bảo quản đồ chơi ngoài trời; 80% đồ chơi ngoài trời có mái che bằng tôn, lưới, dàn cây, bóng râm cây lớn…, được bảo dưỡng thường xuyên để trẻ sử dụng an toàn, hiệu quả. – Hệ thống biểu bảng, tranh ảnh, áp phích tuyên truyền…được thiết kế đẹp, phù hợp với tâm lý của trẻ, được bố trí sắp xếp hợp lý, tiện dụng. – Các góc hoạt động trong lớp và ngoài lớp mang tính mở, tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng tự lựa chọn và sử dụng sự vật, đồ vật, đồ chơi để thực hành, trải nghiệm. Trang trí môi trường lớp học cần phù hợp với tính chất của hoạt động, phù hợp với từng lúa tuổi, phù hợp hoạt động chung, và hoạt động theo sở thích, khả năng nhóm hoặc cá nhân. Các đồ dùng đồ chơi trong và ngoài lớp được sắp xếp khoa học, thường xuyên được thay đổi tạo nên sự mới mẻ, phấn khích đối với trẻ; đồ dùng đồ chơi trong nhóm, lớp được sắp xếp phù hợp theo chủ đề.   6.4. Khuyến khích trẻ có thể hoạt động theo nhiều cách khác nhau; tạo điều kiện cho trẻ được tim tòi khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng nhăm đáp ứng nhu cầu hứng thú của trẻ, cơ hội cho trẻ hoạt động trải nghiệm, khám phá dưới nhiều hình thức khác nhau, phát triển toàn diện.   6.5. Tạo những điều kiện, cơ hội cho trẻ tham gia vào hoạt động phù hợp với khả năng nhu cầu và hứng thú của trẻ. Tận dụng hoàn cảnh, tình huống thật để hướng dẩn kỷ năng kiến thức và thái độ cho trẻ, trẻ được hoạt động trải nghiệm, khám phá trong môi trường an toàn.
  1. Biện pháp thực hiện.
  2. Xây dựng kế hoạch giáo dục
  Kế hoạch giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, phạm vi và mức độ, nội dung giáo dục trẻ, các phương pháp, các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp với trẻ, cụ thể:   – Thể hiện các mục tiêu cụ thể rõ ràng phản ánh được kết quả mong đợi đáp ứng với sự phát triển của trẻ theo giai đoạn, thời điểm phù hợp và theo Chương trình giáo dục mầm non.   – Thể hiện nội dung giáo dục theo Chương trình giáo dục mầm non và có thể điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với sự phát triển của trẻ và điều kiện thực tế của vùng miền, địa phương, trường/lớp.   – Không nhấn mạnh vào việc cung cấp cho trẻ những kiến thức, kỹ năng đơn lẻ mà theo hướng tích hợp, coi trọng việc hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng sống cho trẻ.   – Thể hiện tính tích hợp, tạo sự gắn kết, tác động một cách thống nhất đồng bộ đến sự phát triển của trẻ.   – Khuyến khích trẻ tham gia hoạt động giáo dục bằng vận động thân thể và các giác quan dưới nhiều hình thức khác nhau.
  1. Tổ chức hoạt động giáo dục
  – Phối hợp các phương pháp hợp lý, tăng cường tính chủ động, tích cực hoạt động của trẻ, đảm bảo trẻ “ học bằng chơi, chơi mà học”.   – Phương pháp hỗ trợ theo hướng mở rộng được quan tâm để khuyến khích trẻ sáng tạo, làm thay đổi và cá thể hóa đối với những trẻ thiếu hụt hoặc có hoàn cảnh khó khăn.   – Chú trọng các hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi, tạo ra các cơ hội cho trẻ hoạt động tích cực phù hợp với nhu cầu, hứng thú của trẻ và sự phát triển của từng cá nhân trẻ.   – Tạo cơ hội cho trẻ được bộc lộ hết khả năng của riêng mình.   – Giáo viên tổ chức, điều khiển, hỗ trợ đúng lúc, không làm thay trẻ. Khuyến khích tương tác giữa trẻ với trẻ.
  1. Đánh giá sự phát triển của trẻ
  – Đánh giá đúng khả năng của mỗi trẻ để có những tác động phù hợp và tôn trọng những gì trẻ có. Đánh giá kết quả giáo dục trẻ phải được dựa trên cơ sở thay đổi của từng trẻ, không kỳ vọng giống nhau với tất cả trẻ.   – Đánh giá sự tiến bộ của từng trẻ dựa trên mức độ đạt so với mục tiêu, trên cơ sở đó sử dụng kết quả đánh giá để xây dựng kế hoạch giáo dục, điều chỉnh kế hoạch giáo dục và tổ chức các hoạt động giáo dục tiếp theo cho phù hợp với khả năng, nhu cầu, sở thích, kinh nghiệm sống của trẻ và điều kiện thức tế của trường, lớp (Không đánh giá so sánh giữa các trẻ).   – Tôn trọng sự khác biệt của mỗi đứa trẻ về cách thức và thái độ học tập và phát triển riêng. Chú trọng và thúc đẩy tiềm năng của mỗi trẻ.
  1. Sự phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ và cộng đồng trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
  – Đa dạng các hình thức, hoạt động tuyên truyền tới cộng đồng, cha mẹ trẻ về vị trí, vai trò của giáo dục mầm non và hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.   – Có mối quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa giáo viên, nhà trường, cha mẹ trẻ và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ.   – Tạo điều kiện để các bậc cha mẹ tham gia vào hoạt động của trường, lớp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Kịp thời thông tin đến gia đình về những tiến bộ hoặc những khó khăn của trẻ. Có biện pháp khuyến khích sự chia sẻ của gia đình về đặc điểm tâm lý của trẻ để thống nhất các biện pháp thúc đẩy sự tiến bộ của trẻ.   – Phối hợp với gia đình, cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn.
  1. Kế hoạch thực hiện và bồi dưỡng cho đội ngủ về nội dung thực hành áp dụng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm.
  5.1. Đối với Nhà trường – Xây dựng kế hoạch chuyên đề “xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2018-2019, kế hoạch năm phù hợp với điều kiện của địa phương, nhà trường. Triển khai thực hiện kế hoạch đến từng giáo viên của đơn vị. – Chỉ đạo các giáo viên xây dựng kế hoạch, thực hiện chuyên đề ở các nhóm, lớp mình phụ trách. – Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ (Kế hoạch năm, tháng, tuần) phù hợp với tình hình đặc điểm nhóm, lớp mình phụ trách, phù hợp với sự phát triển của trẻ theo Chương trình Giáo dục mầm non. – Chọn các nhóm, lớp để xây dựng điểm thực hiện chuyên đề “xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”. – Đẩy mạnh công tác tham mưu và xã hội hóa giáo dục để huy động nguồn lực cho việc thực hiện chuyên đề (Xây dựng bếp ăn 1 chiều đảm bảo theo yêu cầu, làm dàn mát trước sân 3 phòng học mới, xây dựng khu vui chơi phát triển vận động, có trên 5 loại đồ chơi ngoài trời cho mỗi khu vực…), đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi… để xây dựng môi trường giáo dục phù hợp, đảm bảo phục vụ các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. – Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch năm, tháng tuần phù hợp với tình hình thực tế của nhóm lớp mình phụ trách. Chuẩn bị tốt các điều kiện đồ dùng đồ chơi, vật liệu chơi, các góc chơi phù hợp với từng chủ đề, nhằm đáp ứng nhu cầu hứng thú chơi của trẻ. Chú trọng xây dựng môi trường trong ngoài lớp học đảm bảo an toàn thân thiện đối với trẻ, môi trường phải đảm bảo phục vụ tốt các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. Trong tổ chức hướng dẫn trẻ chơi, phải thể hiện sự tôn trọng trẻ, tạo cơ hội cho mọi trẻ được học tập và thành công, học qua chơi… – Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tầm quan trọng của chuyên đề về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, kế hoạch thực hiện, tới các bậc cha mẹ và cộng đồng về kế hoạch thực hiện chuyên đề giáo dục lấy trẻ làm trung tâm nhằm để có sự phối hợp, hổ trợ kinh phí để xây dựng môi trường, mua săm trang thiết bị đồ dùng đồ chơi đủ theo thông tư 02 /2010/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT nhằm đảm bảo trong quá trình triển khai thực hiện. – Nhà trường cử giáo viên tham gia các lớp tập huấn do phòng Giáo dục tổ chức, về các nội dung trong việc xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm; triển khai tập huấn cho 100% cán bộ quản lý và giáo viên trong đơn vị về chuyên đề: Mục đích, yêu cầu, nội dung, bộ tiêu chí… – Tham mưu với lãnh đạo phòng tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm của một số đơn vị điển hình cấp thị, cấp tỉnh. – Báo cáo, đánh giá quả triển khai chuyên đề trong năm học giửi về phòng GD&ĐT vào cuối năm học. 5..2. Đối với giáo viên – Tích cực nghiên cứu tài liệu. – Dựa vào kế hoạch chuyên đề của nhà trường để lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ (Kế hoạch năm, tháng, tuần) phù hợp với tình hình đặc điểm nhóm, lớp mình phụ trách, phù hợp với sự phát triển của trẻ theo Chương trình Giáo dục mầm non. – Xây dựng tốt môi trường trong ngoài lớp học phù hợp với chuyên đề đảm bảo đầy đủ các loại đồ dùng đồ chơi, vật liệu chơi, các góc chơi phù hợp với từng chủ đề, nhằm đáp ứng nhu cầu hứng thú chơi của trẻ. Trong tổ chức hướng dẫn trẻ chơi, phải thể hiện sự tôn trọng trẻ, tạo cơ hội cho mọi trẻ được học tập và thành công, học qua chơi… – Bồi dưỡng kiến thức, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động ở lớp đáp ứng mục tiêu chuyên đề. – Đưa mục tiêu lấy trẻ làm trung tâm thể hiện qua các hoạt động hàng ngày như: giờ đón trẻ, thể dục sáng, hoạt động học có chủ định, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời,… – Giáo viên căn cứ vào mục tiêu cần đạt và khả năng của trẻ để xác định phương pháp hoạt động phù hợp cho cả lớp và phù hợp cho từng cá nhân trẻ (trẻ cá biệt), đảm bảo tính phù hợp, hài hoà theo từng độ tuổi, chủ động sắp xếp trình tự hoạt động theo chủ đích của mình và mức độ cảm nhận, hứng thú của trẻ. – Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề “giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” phù hợp với nhóm lớp mình phụ trách. – Thực hiện đầy đủ các nội dung của bộ tiêu chí trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhằm đạt kết quả cao. – Sau khi đã thực hiện, cần căn cứ xem xét kết quả đạt được khi thực hiện bộ tiêu chí. – Rút kinh nghiệm và chia sẻ với đồng nghiệp: Trong quá trình thực hiện giáo viên đúc rút kinh nghiệm đồng thời cùng chia sẽ với đồng nghiệp những thuận lợi, khó khăn, tìm tòi sáng tạo thêm những điểm mới trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm để cùng nhau tiến bộ. + Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong chương trình GDMN Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu từ ngữ.   Tồn tại hai loại ngôn ngữ: Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
  1. Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng vào đối tượng bên ngoài, được biểu đạt bằng lời nói (âm thanh) và thu nhận bằng thính giác (nghe).
  2. Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ dùng ký hiệu ghi lại lời nói….
  Ngôn ngữ nói, giao tiếp và đọc viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát nhân cách của trẻ MN nói riêng, của con người và xã hội nói chung.   Lứa tuổi MN là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ. Đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và các kỹ năng đọc viết ban đầu của trẻ. Ở GĐ này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các giai đoạn trước hoặc sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân, hiểu mục đích và cách thức con người sử dụng chữ viết.   Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trẻ còn lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin với người khác và tiếp nhận, đáp lại ý tưởng, thông tin của người khác.   Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tư duy ký hiệu tượng trưng ở trẻ.Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp vì thế ngôn ngữ cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển các năng lực và kỹ năng xã hội ở trẻ. Trẻ không chỉ sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ thái độ, suy nghĩ, tình cảm của bản thân với mọi người xung quanh mà còn để tiếp nhận, hiểu thái độ, suy nghĩ, tình cảm và giao tiếp của người khác. Trình độ phát triển ngôn ngữ và làm quen với đọc viết ban đầu còn góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường phổ thông cũng như sự thành đạt trong cuộc sống sau này của trẻ.   Phát triển ngôn ngữ được hiểu là quá trình trẻ lĩnh hội chức năng và cấu trúc của ngôn ngữ và cùng với ngôn ngữ là các qui ước của xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ và tiếp nhận suy nghĩ, cảm xúc và ý tưởng.   Việc lĩnh hội ngôn ngữ bao gồm sự lĩnh hội 3 khía cạnh cơ bản sau của ngôn ngữ: (1) nội dung (vốn từ và nghĩa của từ); (2) hình thái hay cấu trúc (ngữ pháp và cú pháp); và (3) chức năng của ngôn ngữ.
  1. Thời điểm thực hiện các hoạt động ngôn ngữ
  Mọi lúc mọi nơi, trong các thời điểm sinh hoạt.   Tích hợp vào các hoạt động khác một cách hợp lý.  Được tiến hành ở hđ chơi tập và học. 3.Hình thức tổ chức hoạt động:   Cá nhân.   Theo nhóm nhỏ. Khi xây dựng các hoạt động phát triển ngôn ngữ  cần: Xác định chủ đề và nội dung của chủ đề được thực hiện trong thời gian đó. Lựa chọn nội dung cho các hoạt động ngôn ngữ phù hợp với chủ đề đó. Xây dựng môi trường phù hợp với chủ đề. Chuẩn bị các phương tiện, học liệu theo chủ đề. Lựa chọn cách trang trí nhóm phù hợp chủ đề. Phân phối các hoạt động theo tuần, ngày và tích hợp nội dung PTNN với các hoạt động của các lĩnh vực khác. + Phát triển tình cảm kỹ năng xã hội cho trẻ. Mục tiêu: Giáo dục trẻ:Có ý thức về bản thân, mạnh dạn giao tiếp với những người gần gũi. Có khả năng cảm  nhận và biểu lộ cảm xúc với con người, sự vật gần gũi. Thực hiện được một số quy định đơn giản trong sinh hoạt. Thích nghe hát, hát và vận động theo nhạc; thích vẽ, xé dán, xếp hình Nội dung chung: Phát triển tình cảm:   + Ý thức về bản thân   + Nhận biết và thể hiện một số trạng thái cảm xúc Phát triển kĩ năng xã hội:   + Mối quan hệ tích cực với con người và sự vật gần gũi   + Hành vi văn hóa và thực hiện các qui định đơn giản trong giao tiếp, sinh hoạt Phát triển cảm xúc thẩm mĩ:   +Nghe hát và vận động đơn giản theo nhạc   +Vẽ nặn. Xé dán, xếp hình, xem tranh Các nhóm thực hành xây dựng chủ đề tích hợp nội dung giáo dục PTTC – KNXH:   – Lựa chọn chủ đề   – Lựa chọn nội dung tích hợp   – Lựa chọn hoạt động   – Lựa chọn phương tiện, học liệu + Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.
  1. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật mầm non nhằm:
 Tạo ra được môi trường sống, học tập hòa nhập tốt nhất cho trẻ khuyết tật mầm non, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ khuyết tật được tham gia học cùng trẻ bình thường ở các trường, lớp mầm non Giáo dục hòa nhập là cơ hội để trẻ bình thường và trẻ khuyết tật hiểu đúng giá trị của nhau, xóa bỏ sự cách biệt mặc cảm, xa lánh để trẻ có trách nhiệm với nhau hơn Giúp trẻ KT được học tại nơi trẻ sinh sống cùng gia đình, không có sự tách biệt môi trường sống vì trường mầm non hòa nhập có trách nhiệm tiếp nhận tòan bộ trẻ của địa phương nơi trường đóng không kể trẻ khuyết tật hay trẻ bình thường vào học Giúp trẻ khuyết tật học được nhiều hơn ở bạn, ở giáo viên và nhà trường Thông qua lớp học hòa nhập giúp cho mọi trẻ, trong đó kể cả trẻ mầm non bình thường và trẻ khuyết tật được phát triển tòan diện về thể chất, tình cảm. trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một Giáo dục hòa nhập trẻ mầm non còn đóng vai trò giúp trẻ khuyết tật được can thiệp sớm và hỗ trợ gia đình trẻ khuyết tật trong công tác can thiệp sớm Tổ chức các họat động chăm sóc giáo dục trẻ trong một môi trường giáo dục bình thường, tạo cho mọi trẻ mầm non kể cả trẻ khuyết tật có cơ hội được chăm sóc và giáo dục bình đẳng Tạo sự hợp tác giữa gia đình, cộng đồng và nhà trường, trong việc chăm sóc giáo dục trẻ KT mầm non
  1. Quyền lợi và trách nhiệm của cơ sở GDMN trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Quyền lợi  Đối với trẻ mầm non: Tất cả mọi trẻ đều được chăm sóc và học tập để đạt được mục tiêu giáo dục chung Trẻ có tinh thần cộng đồng tập thể, có sự học tập lẫn nhau, biết yêu thương đồng cảm và giúp đỡ nhau tạo thành nhóm bạn bè  Trẻ khuyết tật được giáo viên chăm sóc tận tình trong học tập và sinh họat, được trẻ trong lớp cảm thông, giúp đỡ  Trẻ được sống và học tập cùng nhau, mọi trẻ đều được học tập để đạt được mục tiêu giáo dục chung. Trẻ khuyết tật được tôn trọng, được chú ý những điểm mạnh, được tham gia các họat động của lớp và được động viên, khuyến khích kịp thời  Trẻ khuyết tật mầm non được cung cấp các dịch vụ học tập, chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp  Đối với giáo viên  Giáo viên trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật được học tập nâng cao hiểu biết và biết cách tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật trong lớp hòa nhập. Giáo viên biết tổ chức giờ học riêng cho trẻ KT, biết lập hồ sơ theo dõi, biết đánh giá và xây dựng kế họach mục tiêu giáo dục riêng cho từng trẻ KT  Giáo viên có cơ hội tiếp cận và sử dụng những công nghệ mới trong chăm sóc và giáo dục trẻ KT mầm non  Đối với cơ sở giáo dục mầm non  Cơ sở giáo dục mầm non có tổ chức giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật được đánh giá cao về tính đa dạng trong giáo dục, tôn trọng và được tôn vinh.  Nhà trường tạo điều kiện và cơ hội học tập về giáo dục đặc biệt cho giáo viên mầm non tham gia dạy trẻ khuyết tật hòa nhập, giúp giáo viên có kiến thức, khả năng và phương pháp, kỹ năng tổ chức tốt các họat động chăm sóc giáo dục trẻ tại trường lớp mầm non hòa nhập  Tập thể giáo viên có sự cộng đồng trách nhiệm cao và hỗ trợ nhau tích cực hơn trong công tác giáo dục. Đồ dùng trang thiết bị của trường, lớp được quan tâm chú ý bổ sung phù hợp với  mọi trẻ  Phụ huynh quan tâm tích cực hơn, có trách nhiệm phối hợp cùng với giáo viên và nhà trường trong chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật  Lôi cuốn được sự hỗ trợ của xã hội và cộng đồng trong việc chăm sóc giáo dục trẻ về nhiều mặt trong đó có tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, đồ dung học tập cho trẻ khuyết tật và trẻ bình thường.
  1. Trách nhiệm của trường mầm non trong tổ chức giáo dục hòa nhập trẻ KT mầm non
  • Trường có trách nhiệm tiếp nhận, sắp xếp trẻ khuyết tật vào lớp học phù hợp
  • Trẻ được xếp học ở lớp MN phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi
  • Lớp học có tỉ lệ học sinh hợp lý, không quá đông, mỗi lớp chỉ nên xếp từ 1-2 trẻ khuyết tật học hòa nhập. Khi lớp nhận 1-2 trẻ khuyết tật, sĩ số lớp cần được giảm 3-5 trẻ để giáo viên có điều kiện giảng dạy và chăm sóc trẻ
  • Nhà trường có trách nhiệm tổ chức nhóm chuyên môn hỗ trợ giáo viên dạy lớp hòa nhập trong công tác tìm hiểu, xây dựng và thực hiện kế họach giáo dục cá nhân cho trẻ KT
  • Hiệu trưởng và BGH trường mầm non là người đóng vai trò lãnh đạo tích cực mang tính hỗ trợ cao trong GDHNKT.
  • Nhà trường có sổ danh bạ theo dõi học sinh chung của trường theo các lớp và học sinh khuyết tật theo đúng yêu cầu (số thứ tự, tên trẻ, ngày tháng năm sinh, dân tộc, tôn giáo, tên cha mẹ nghề nghiệp, địa chỉ khi cần báo tin, giáo viên phụ trách lớp…)
  • Giáo viên phải lập kế họach giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật riêng. Kế họach và giáo dục cá nhân cần có sự điều chỉnh mục tiêu giáo dục dài hạn, ngắn hạn. Kế họach giáo dục và các biện pháp thực hiện phải cụ thể để giúp trẻ đạt được mục tiêu đã đề ra và có sự trao đổi thảo luận với cha mẹ trẻ và nhóm cán bộ giáo viên chuyên môn về KT của trường.
  • Giáo viên có sự điều chỉnh phương pháp dạy và đánh giá phù hợp với trẻ KT
  • Nhà trường cần bố trí đồ dùng trang thiết bị phù hợp hỗ trợ trong giáo dục trẻ khuyết tật và đề xuất tăng cường sự hỗ trợ của gia đình và xã hội về điều kiện cơ sở vật chất, đồ dung học tập cho trẻ khuyết tật.
  • Nhà trường có sự cộng tác chặt chẽ với gia đình, cộng đồng và các ban ngành đòan thể địa phương để huy động nhiều nguồn lực hỗ trợ cho GDHN
+ Phương pháp Montessori trong GDMN. Đặc điểm nổi trội ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập, tự do (trong khuôn khổ cho phép) trong việc hình thành nhân cách trẻ. Ngoài ra, phương pháp này rất tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, cũng như trang bị đầy đủ cho học sinh các kiến thức khoa học công nghệ tiến bộ và hiện đại. Tổ chức AMI (Hiệp Hội Montessori Quốc tế) và AMS (Hiệp Hội Montessori Mỹ) đã nêu ra đặc trưng của phương pháp học Montessori như sau: Lớp học ghép các lứa tuổi lại với nhau. Thông thường là các trẻ từ 2½ hay 3 tuổi đến 6 tuổi. Trẻ tự lựa chọn hoạt động (với điều kiện là các hoạt động này đã được giáo viên lên kế hoạch sắp xếp trước) Trẻ không bị ngắt quãng hay làm phiền trong quá trình ‘làm việc’ Học sinh học hỏi khái niệm, kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính chất khám phá, xây dựng, hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên. Các học cụ giáo dục đặc biệt được Bà Montessori và đồng sự nghiên cứu, sáng tạo và phát triển nên. + Các modun nâng cao cho giáo viên. + Tham quan học tập kinh nghiệm về chuyên môn GDMN trong và ngoài tỉnh. + Các văn bản chỉ đạo của tỉnh về GDMN.   KHỐI KIẾN THỨC TỰ CHỌN  Nội dung 3: Bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên – Thời lượng : 40 tiết   Ngày 15 tháng 10 năm 2019 Module MN 7:  MÔI TRƯỞNG GIÁO DỤC CHO TRẺ MẨM NON – Hình thức: Học tập trung – Địa điểm: Lớp MG 5 tuổi A2 – Người học: Lê Quỳnh Anh MỤC Tiêu: Sau khi học song modun này tôi sẽ lắm được: 1Về kiến thức:
  • Hiểu được khái niệm, ý nghĩa và các yêu cầu của môi trưởng giáo dục cho trẻ trong trưởng mầm non.
  • Biết đuợc cách thúc tổ chức môi trường giáo dục cho trẻ hoạt động có hiệu quả trong trường mầm non.
2.Về KĨ NĂNG
  • Thìết lập dược môi trưởng giáo dục trong lóp và ngoài trời cho trẻ hoạt động ờ trường mầm non.
  • Sử dụng các điều kiện sẵn có để xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ phát triển ờ trường mầm non.
Sáng tạo trong tổ chức môi trường giáo dục cho trẻ ờ truờng mầm non. Về thái độ Nâng cao ý thức bổ sung, điều chỉnh môi trường giáo dục phù hợp với trẻ ờ lớp của mình phụ trách và trường mầm non ngày càng phong phú và hấp dẫn.
  1. Nội dung:
KHÁI NIỆM MỒI TRƯỜNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON Hoạt động 1. Tìm hiểu về môi trường giáo dục cho trẻ mầm non Môi trường giáo dục cho trẻ mầm non đề cập ở đây là hoàn cảnh sinh hoạt của trẻ toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội nằm trong khuôn viên của trường mầm non, gồm hai bộ phận không thể tách rời, liên quan chặt chẽ và bổ sung lẫn nhau, đó là: + Môi trường vật chất: phòng nhóm/ lớp học, hành lang, sân vườn và trang thiết bị, đồ dùng dạy học. + Môi trường tinh thần: bầu không khí, quan hệ xã hội, giao tiếp giữa trẻ với người lớn (giáo viên, phụ huynh, khách), giữa trẻ với nhau (đồng niên, đồng giới, khác giới) và giữa người lớn với nhau. Ý nghĩa/giá trị của môi trường giáo dục đối với trẻ mầm non là: Tạo điều kiện cho trẻ được tương tác với phương tiện giáo dục (thiết bị, đồ dùng, đồ chơi) và tiếp xúc, giao tiếp với mọi người. ảnh hường sâu săc của môi trường trong hoạt động giáo dục: + Giúp trẻ có cơ hội tự khám phá một cách tích cực, chủ động để trải nghiệm và phát triển toàn diện, phát huy tối ưu những tiềm năng sẵn có của bản thân, hình thành những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống. + Hô trợ thiết yếu cho giáo viên thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Yêu cầu về môi trường giáo dục cho trẻ mầm non: +Antoàn và vệ sinh: đảm bảo đủ điểu kiện vềcơ sở vật chất theo quy định (diện tích, ánh sáng, thoáng mát về mùa hè, án ấp về mùa đông và đủ dưỡng khí cho trẻ trong lớp học; hệ thống điện, nước; đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị) được bảo dưỡng để tránh nguy hiểm, đảm bảo an toàn và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ; có bầu không khí vui tươi, thân thiện, hòa thuận; quan hệ gần gũi, yêu thương, tôn trọng; đối xử công bằng. +Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và nhu cầu của trẻ mầm non: Trẻ phát triển nhanh và rất hiếu động nên cần không gian đủ rộng để hoạt động, đặc biệt khi thời tiết nóng hạn chế chơi ngoài trời. Khoảng không gian này cần thiết để trẻ chơi cá nhân hoặc chơi cạnh nhau hay chơi thành nhóm. +Đáp ứng yêu cầu của chương trình: thiết kế môi trường theo quá trình hoạt động chủ đề; xây dựng các khu vực/góc hoạt động.
  • Thực tế: Nên tận dụng phương tiện sẵn có trong môi trường tự nhiên – xã hội ở địa phương như cây, con, hoa quả, kết cẩu công trình xây dựng, nguyên vật liệu; sản phẩm tự tạo của giáo viên và trẻ; văn hóa bản địa.
Giáo viên cùng trẻ chuẩn bị và xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho nhóm/ lớp mình. Xâỵ dựng môi trường giáo dục là một quá trình thường xuyên, liên tục và theo chủ đề giáo dục đang diễn ra Hoạt động giáo dục trong trường mầm non có thể được tiến hành ở trong nhóm / lớp, ngoài sân và các khu vực khác trong trường. Khu vực/góc hoạt động là nơi trẻ có thể tự chơi – học theo ý thích cá nhân, theo  từng đôi, hoặc trong nhóm nhỏ, nhóm lớn cùng sở thích. Ở đó trẻ học cách tự quyết định, chia sẻ và cộng tác với nhau. Trẻ được thực hành, tích lũy kinh nghiệm phong phú, mở rộng trí tưởng tượng và có Cơ hội để bộc lộ khả năng. Các khu vực/góc của trẻ trong trường mầm non theo chương trình giáo dục mầm non là: đóng vai; tạo hình; thư viện (sách, tranh truyện); ghép hình, lắp ráp/xây dựng; khám phá thiên nhiên và khoa học; âmnhac.       Ngày 12  tháng 12 năm 2019 Module MĐ9: Môi trường giáo dục trẻ mầm non: – Hình thức: Học tập trung – Địa điểm: Lớp MG 5 tuổi A2 – Người học: Lê Quỳnh Anh
  1. MỤC TIÊU CỤ THỂ
Sau khi học module này, tôi có thể biết: 1.1.Về kiến thức Xác định các đặc điểm, quy luật phát triển tâm sinh lí của trẻ từ 3- 6 tuổi. Nêu được vai trò, nguyên tắc xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ trong độ tuổi từ 3 – 6 tuổi. Trình bày được cách xây dựng môi trường giáo dục tích cực cho trẻ trong độ tuổi từ 3 – 6 tuổi. 1.2. Về kĩ năng Biết tổ chức sắp xếp môi trường giáo dục cho trẻ từ 3 – 6 tuổi hoat động. Sử dụng các vật liệu sẵn có ở địa phương nhà trường để xây dựng môi trường hoạt động trong lớp cho trẻ phù hợp; tận dụng các thiết bị chơi ngoài trời để trẻ vui chơi học tập. Sử dụng môi trường sẵn có xung quanh lớp học để giúp trẻ trong độ tuổi từ 3 – 6 tuổi phát triển toàn diện. 1.3.Về thái độ Rèn luyện khả năng tự học để có những kiến thức, kĩ năng cơ bản trong việc xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ trong độ tuổi từ 3 – 6 tuổi. Có ý thức bổ sung, điều chỉnh việc làm hàng ngày để tổ chức môi trường cho trẻ trong độ tuổi từ 3 – 6 tuổi hoạt động ngày càng phong phú và hâp dẫn. Có ý thức tự giác sưu tầm, tận dụng và sử dụng các nguyên vật liệu, phế liệu để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động 2.Môi trường giáo dục Môi trường giáo dục: là nơi có các nguồn thông tin phong phú, khuyến khích tính độc lập và tích cực của trẻ. Môi trường giáo dục mà mođule này đề cập đến là môi trường vật chất, bao gồm môi trường trong lớp (môi trường do giáo viên và trẻ trong lớp cùng dùng), môi trường sẵn có ở xung quanh lớp hoặc trường mầm non (chủ yếu giáo viên sử dụng môi truởng sẵn có). Môi trường giáo dục cho trẻ từ 3 – 6 tuổi bao gồm: Trang thiết bị đồ dùng và đồ chơi; bàn ghế, các giá, tủ, đồ dùng, đồ chơi… Các biểu bảng phục vụ cho việc chămsóc, giáo dục trẻ… Cácgóchoạtđộngtronglớp. Trong khuôn viên nhà trường như: + Cácgóchoạtđộngở sân trưởng, hành lang lớp học; +Các phòng chức năng, nhóm lớp khác trong trường; + Sân chơi và các thiết bị chơi ngoài trời; + Khu chơi cát, nước; + Vườn hoa, luống rau, các con vật cây cối… +Cổng trường, hàng rào. Ngoài khuôn viên ngoài trường/lớp như: + Con đường; +Kênh nước, ao hồ; + Trạm xá, bưu điện, chợ; + Cánh đồng lúa, quả đồi gần trường; + Di tích lịch sử, làng nghề của địa phương…
  1. Vai trò cùa môi trường giáo dục
Giúp trẻ từ 3 – 6 tuổi tìm tòi, khám phá và phát hiện nhiều điều mới lạ, hẩp dẫn trong cuộc sống; Các kiến thức và kĩ năng của trẻ được củng cố và bổ sung. Trong môi trường đó, trẻ từ 3 – 6 tuổi được hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm và trẻ có nhiều cơ hội tham gia tích cực các hoạt động, tạo cơ hội để trẻ bộc lộ hết khả năng của mình. Môi trưởng phù hợp, đa dạng, phong phú sẽ gây hứng thú cho trẻ từ 3 – 6 tuổi và bản thân giáo viên; góp phần hình thành và nâng cao mối quan hệ thân thiện, tự tin giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ trong cùng lớp. Môi trường giáo dục là nơi cung cấp kiến thức, phát triển sự hiểu biết, tình cảm, thẩm mĩ, thể chất, ngôn ngữ, rèn luyện kĩ năng cho trẻ, góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ từ 3 – 6 tuổi nói riêng và trẻ mầm non nói chung. Môi trường giáo dục góp phần hình thành tính chủ định cho trẻ từ 3-6 tuổi.                                           Ngày 15 tháng 03 năm 2020 Module MN 12:  MÔI TRƯỞNG GIÁO DỤC CHO TRẺ MẨM NON – Hình thức: Học tập trung – Địa điểm: Lớp MG 5 tuổi A1 – Người học:   Qua học tập, nghiên cứu module 12 về các phương pháp tư vấn chăm sóc, giáo dục cho cha mẹ trẻ có con 3 – 6 tuổi. Tôi đã nắm bắt và hiểu thêm được những khả năng của trẻ 3, 4, 5 tuổi và những việc làm cần thiết của cha mẹ nhằm giúp trẻ phát triển tốt. Cụ thể như sau: * Trẻ 3, 4 tuổi có khả năng sau: – Làm theo những chỉ dẫn đơn giản – Đi, leo, trèo, chạy nhảy dễ dàng – Nói được những câu dài 8 – 10 từ – Nói được tên, tuổi của mình – Kể tên các màu sắc – Hiểu số đếm – Sử dụng các đồ vật làm giả các thứ khác để chơi – Bắt chước các hành vi, lời nói – Tự ăn * Lời khuyên cho cha mẹ: – Dạy trẻ tránh những nơi, đồ vật nguy hiểm – Giúp trẻ mặc quần áo, rửa tay và sử dụng nhà vệ sinh. – Phối hợp nhiều thức ăn khác nhau trong 1 bữa ăn, ăn nhiều bữa ăn trong ngày. – Khuyến khích nhưng không ép buộc trẻ – Trò chuyện với trẻ bình thường, không được dùng cách nói chuyện của trẻ. – Đưa ra những quy định và giúp trẻ thực hiện – Đọc truyện, hát cho trẻ nghe và dạy trẻ hát, đọc thơ, chơi với trẻ. * Trẻ 5 tuổi có khả năng sau: – Cử động, đi lại, chạy nhảy, phối hợp tốt – Mặc quần áo không cần giúp đỡ – Tự rửa tay – Biết chơi cùng trẻ khác – Nói đầy đủ câu, sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau – Hiểu từ trái nghĩa – Trả lời được câu hỏi vì sao – Đếm được 10 đồ vật * Lời khuyên cho cha mẹ: – Phối hợp nhiều thức ăn khác nhau trong 1 bữa ăn, ăn nhiều bữa ăn trong ngày. – Dạy trẻ tránh những nơi, đồ vật nguy hiểm – Giúp trẻ mặc quần áo, rửa tay và sử dụng nhà vệ sinh. – Khuyến khích trẻ chơi và khám phá các đồ vật trong cuộc sống – Lắng nghe trẻ nói và trả lời các câu hỏi của trẻ – Đọc truyện, kể truyện cho trẻ nghe. * Áp dụng nội dung học tập vào thực tế Qua học tập module 12 tôi đã nắm được mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tư vấn về chăm sóc, giáo dục cho cha mẹ trẻ có con từ 3 – 6 tuổi. Biết được nhu cầu của trẻ 3 – 6 tuổi, vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục trẻ từ 3- 6. Tôi còn hiểu thêm cách lựa chọn nội dung, vận dụng được phương pháp, hình thức tư vấn cho cha mẹ có con từ 3 – 6 tuổi phù hợp với từng đối tượng cha mẹ vào điều kiện thực tế. Hơn nữa còn giúp tôi rèn được tính kiên chì học hỏi để nâng cao hiệu quả tư vấn cho cha mẹ có con từ 3 – 6 tuổi tại trường. Ngoài ra tôi còn chia sẻ những kinh nghiệm về tư vấn cho các chị em đồng nghiệp khác, để làm tốt hơn công tác chăm sóc, giáo dục trẻ 3 – 6 tuổi. Link tải tài liệu tại đây:  bài học BDTX 2020                                                            

Leave a Reply